Sign up
THƠ RẤT THIÊNG
buiminhquoc | 13 Aug, 2008, 11:39 | Chung | (2396 Reads)

 

BÙI MINH QUỐC

 

THƠ RẤT THIÊNG

 

Không biết đã có nhà nghiên cứu nào mò mẫm vào cái phạm trù đặc biệt này : tính thiêng của thơ ?

           Phần tôi, bằng sự trải nghiệm của hơn năm mươi năm cầm bút, với tất cả sự dè dặt, chỉ xin giãi bày đôi chút cảm và nghĩ.

Cảm và nghĩ này bắt đầu vụt loé trong tôi vào năm 1992, khi đọc “Chân dung nhà văn” của Xuân Sách.Trước kia chỉ nghe truyền miệng, các “Chân dung” cứ trượt đi trong cái bầu khí bỗ bã cười đùa tếu táo, có bài nghe xong tôi còn thầm trách ông Sách ác khẩu.Giờ thì đọc đến đâu giật mình đến đấy.Và ngộ ra : thơ thiêng lắm ! Năm ấy tôi ghi lại, bằng thơ, cảm nghĩ của mình :

Thơ thiêng lắm người ơi

Phản thơ thì phải chết

Chẳng ai giết mình mà mình tự giết

Cuộc tự giết ấy đã được nhà thơ Chế Lan Viên tự thổ lộ vào lúc gần cuối đời (1988) trong bài “Trừ đi” :

Cái cần đưa vào thơ, tôi đã giết rồi

Quái lạ, sao vậy nhỉ ?

Tôi (tức Chế lan Viên) là người làm thơ, một  thần đồng thơ từ 16 tuổi, một (trong không nhiều) thi sĩ hàng đầu của đất nước, mà sao tôi lại giết thơ ?

Vì tôi không còn là tôi nữa.

Cần phải hỏi tiếp : Vậy chớ vì sao tôi không còn là tôi nữa ?

          Tại vì…

          Tại vì…

           Có cà lăm mấy thì cũng phải tự nhận 2 cái ‘tại vì” này :

-         Tại vì có một sức mạnh ở bên ngoài tôi đã tàn bạo đang tay vo tròn bóp méo tôi.

-         Tại vì ở ngay trong tôi có một sức mạnh ma quỉ nào đó chỉ riêng tôi biết xui khiến tôi phải tự vo tròn bóp méo mình.

Các nhà triết học gọi đó là trạng thái tha hóa của con người, là đánh mất bản ngã, đánh mất cái tôi.Cũng có người gọi là bán linh hồn cho quỉ dữ.

Năm 1960, sau một thời gian dài không xuất hiện, Chế Lan Viên bỗng tái xuất với tập thơ “Ánh sáng và phù sa” được giới phê bình nêu  bật như ngôi sao trên văn đàn miền Bắc trong tư thế một nhà thơ tiền chiến nhờ đi theo Đảng đã vươn tới góp phần quan trọng làm nên thành tựu thơ cho nền văn học cách mạng.Giữa bản hợp xướng tôn vinh ồn ã, nghe truyền miệng lạc dòng một giọng thơ thì thầm khép nép nhưng rất lạ và… “láo” - thơ chân dung, của một anh lính nào đó có tên là Xuân Sách vừa từ dưới đơn vị chuyển về tạp chí Văn nghệ Quân đội.Một câu thơ tâm ngẩm tầm ngầm truyền lan như điện giật : “Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa”. Thế thôi, chỉ vẩy bút chấm phá sơ sơ thế thôi, đã thấy hiện ra mồn một cái bản lai diện mục ẩn kín của nhân vật đang rất “hoành tráng” bề ngoài.Ghê thật.Cái thủ pháp vẽ chân dung kiểu này quả là độc chiêu có lẽ ông trời phú riêng cho Xuân Sách.Bài thơ chân dung không nói là vẽ ai, nhưng mọi người nghe qua đã biết liền đấy là Chế Lan Viên, nhờ ngón lẩy chữ tài tình  : “ánh sáng”, “phù sa”.

Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa.

Thế đấy, khi đã lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa thì cũng là bắt đầu tự giết rồi.Đấy là dùng thơ để đổi lấy cái gì đó ngoài thơ, phản thơ chứ gì nữa.Quá trình tự giết từ đấy tự vận hành bên trong con người mình, không cưỡng nổi bởi lực đẩy của những tham vọng ngoài thơ, phản thơ.Cứ thế, âm thầm, một mình mình biết.Và đinh ninh rằng chỉ một mình mình biết.Nhưng mà không, nhầm to.Có người khác biết.Người đó là Xuân Sách.Thế cho nên đến lúc có người đọc cho Chế Lan Viên nghe bài thơ chân dung Xuân Sách vẽ mình, Chế Lan Viên chỉ cười cười lặng lẽ, lảng lảng, không cãi, và những lần hội họp này khác có gặp Xuân Sách thì vẫn bắt tay bình thường, sự thể ấy cũng chính Xuân Sách đã kể với tôi.

Chế Lan Viên không cãi.

Nhưng Tố Hữu thì cãi.

Ông bảo, Xuân Sách viết “máu ở chiến trường hoa ở đây” là Xuân Sách phịa (Lời cãi này đã in trong một bài tường thuật đăng trên báo Văn Nghệ).

 Nhưng dù cố cãi thế nào thì Tố Hữu cũng không thể gạt ra khỏi đời thơ của mình mấy câu thơ này :

Yêu biết mấy nghe con tập nói

Tiếng đầu lòng con gọi Xta-lin

Theo nhận xét của riêng tôi, đây là những câu thơ vong bản nhất, cổ kim chưa từng có, trong thơ Việt.

Hãy cứ tạm tin rằng khi đặt bút viết những câu thơ vừa dẫn trên, Tố Hữu chưa có thông tin gì về tội ác trời không dung đất không tha của Xta-lin đối với nhân dân Liên Xô, trí thức Liên Xô, và trước hết là đối với những đồng chí cộng sản thân thiết từng kề vai sát cánh cùng ông ta từ thuở nằm gai nếm mật, mặc dù các thông tin đó đã công bố không ít trên sách báo phương Tây.Và cũng tạm tin rằng tấm lòng kính yêu sùng bái của Tố Hữu đối với Xta-lin là thành thực.Nhưng dám vẽ ra cái cảnh con mình, một đứa bé Việt Nam cất tiếng đầu lòng không gọi “Mẹ” mà gọi “Xta-lin” thì thật là một sự bịa đặt gượng ép lố bịch quá quắt, đến nỗi tôi phải nghĩ rằng đó là của ai khác viết ra chứ không phải của tác giả “Nhớ đồng” (tên một bài thơ của Tố Hữu mà tôi rất mê trong tập “Từ ấy” với những câu như “Gì sâu bằng những trưa thương nhớ/Xao động bên trong một tiếng hò”).Đâu rồi chàng trai yêu nước yêu dân yêu tự do trong “Từ ấy” ? Theo đà chín chắn hơn của tuổi tác, chất vong bản không nhạt đi mà vẫn y nguyên thế, nếu không nói là đậm hơn trong lời lẽ bóng bẩy hơn :  Mao Trạch Đông/Bóng Người cao lồng lộng/Ấm hơn một ngọn cờ hồng (Tố Hữu – Đường sang nước bạn).Lời tụng ca cất lên vào lúc tuy chưa có cách mạng văn hóa vô sản nhưng đã có cải cách ruộng đất và đại nhảy vọt mà Tố Hữu quá biết đã gây tai họa như thế nào.Ở đây, rung động thơ không còn thuần khiết cái trinh bạch của tâm hồn cá thể trữ tình nữa mà đã có sự chi phối của ý thức hệ giai cấp (Thảm trạng ý thức hệ giai cấp lấn lướt và thôn tính ý thức hệ dân tộc diễn ra trong tâm thức đại đa số đảng viên, nhất là đảng viên trung cao cấp, đã đưa Đảng  và toàn dân tộc sa vào một bi kịch khủng khiếp dai dẳng như thế nào và hiện vẫn còn là một vấn nạn lớn đã được một số nhà nghiên cứu có tư duy độc lập phân tích phê phán khá kỹ, xin tìm đọc Đào Phan, Hà Sĩ Phu, Lữ Phương, Lê Hồng Hà…).

Những câu thơ nêu trên là cái dấu mốc cho thấy Tố Hữu đã tự vo tròn bóp méo mình, đánh mất mình, đã phản thơ.

Lô-gích tất yếu của sự phản bội : Tố Hữu, một thi sĩ cách mạng hàng đầu, trở thành đao phủ thủ hàng đầu hạ độc thủ các đồng nghiệp Nhân văn.

Người yêu người sống để yêu nhau – Tố Hữu viết thế, có thật lòng không ? Trong cái “yêu” ấy, có chỗ nào của cái “yêu” mà Tố Hữu đã ban cho anh em Nhân văn ? Phùng Quán cũng “yêu” - Yêu ai cứ bảo là yêu/ghét ai cứ bảo là ghét. Cũng một chữ yêu, ở hai nhà thơ cách mạng, một người nằm dưới lưỡi dao hành quyết của người kia, thì ai nói thật lòng ? Chắc chắn chỉ là Phùng Quán - dù ai cầm giao dọa giết/cũng không nói ghét thành yêu - điều đó đã được định luận bằng cả cuộc đời “nhất quán tận can trường” của ông.

Cái ghế quan trường giết chết thơ  – Xuân Sách viết thế, trong bài vẽ chân dung Chính Hữu.Nhưng đâu phải chỉ Chính Hữu.Nhìn kỹ lại, từ Tố Hữu đến các văn nghệ sĩ dưới quyền ông trong hệ thống phẩm trật quan trường hầu hết đều thế cả, nói cho chính xác thì không phải cái ghế nó giết mà cái lòng hám ghế nó thôi thúc đương sự tự giết mình, giết thơ.

Tự giết mình đồng thời cũng không ngần ngại giết cả đồng nghiệp, tiêu biểu là Tố Hữu như nêu trên, và một người kế tục cũng khá tiêu biểu : Nguyễn Khoa Điềm, tác giả câu thơ nổi tiếng thời chiến tranh qua giai điệu Trần Hoàn “mai sau con lớn làm người tự do”, sang thời hậu chiến trở thành người “tự do” ném vào máy nghiền cuốn “Chuyện kể năm 2000” của Bùi Ngọc Tấn mà nguyên trưởng Ban Văn hóa Văn nghệ trung ương, cố nhà văn Trần Độ coi là “một tiểu thuyết hiện thực lớn”.Bằng các cuộc giết ấy, Nguyễn Khoa Điềm leo nhanh lên những nấc ghế ngày càng cao, đến tận hàng ghế tối cao, ủy viên Bộ chính trị, trưởng Ban Tư tưởng Văn hóa trung ương, nắm giữ guồng máy điều khiển gò siết trói buộc tư duy của toàn Đảng toàn dân

Nếu là người thuộc loại chuyên chú dốc lòng theo nghiệp vua quan thì chắc chỉ có việc rung đùi trên ghế, nhưng ở những người đã trót tự nguyện mang lấy nghiệp thơ văn, thì cái sức mạnh thiêng liêng của thơ, của văn chương chữ nghĩa nó buộc phải đối mặt với vấn đề này : cái mà ta tự giết và giết đồng chí, đồng nghiệp để đổi lấy cái mà ta nghĩ rằng giá trị hơn (“cái ghế quan trường”), rốt cuộc có giá trị hơn thật không ?

          Qua bao đêm ngày một mình đối mặt với chính mình để trả lời câu hỏi ấy, Tố Hữu đã phải nói lại về anh em Nhân văn những lời ngược hẳn trước kia (Nhật Hoa Khanh ghi).Chế Lan Viên viết “Bánh vẽ”, “Trừ đi”, Nguyễn Đình Thi viết “Gió bay”, Nguyễn Khải viết “Đi tìm cái tôi đã mất”.

Bài của Nguyễn Khải hiện đang gây chú ý cao độ đối với văn giới Việt Nam.Và không chỉ văn giới.Giáo sư Chu Hảo giám đốc nhà xuất bản Tri thức cho tôi biết, trong cuộc gặp ngày 19.5.2008 tại Hà Nội vừa qua giữa Ban bí thư với một số trí thức tên tuổi, ông đã trao cho văn phòng Ban bí thư bài “Đi tìm cái tôi đã mất” và đề nghị các ủy viên Bộ chính trị, Ban bí thư cần phải đọc trước khi ra nghị quyết về “Xây dựng đội ngũ trí thức…”.

Nhà thơ Dương Tường nhận xét, trong một bài trả lời phỏng vấn :

            “Trong Khải, luôn có hai con người. Một Nguyễn Khải khôn khéo giả dối và một Nguyễn Khải thành thật trắng trợn.Một Nguyễn Khải hèn nhát và một Nguyễn Khải khinh ghét tay Nguyễn Khải hèn nhát kia. Và sự tranh chấp giữa hai con người ấy không bao giờ ngã ngũ”.

           Nhà phê bình Vương Trí Nhàn :

“Gọi lả Đi tìm cái Tôi đã mất cho sang. Ở đây tác giả không định đi tìm cái gì cả”...

“Thế tại sao Nguyễn Khải lại viết Đi tìm cái Tôi đã mất? Theo tôi, trường hợp này cũng giống như Chế Lan Viên viết Di cảo thơ, và Tố Hữu tâm sự với Nhật Hoa Khanh. Thực chất cái việc các ông “cố ý làm nhòe khuôn mặt của mình” như thế này là cốt để xếp hàng cả hai cửa. Cửa cũ, các ông chẳng bao giờ từ. Còn nếu tình hình hình khác đi, có sự đánh giá khác đi, các ông đã có sẵn cục gạch của mình ở bên cửa mới (bạn đọc có sống ở Hà Nội thời bao cấp hẳn nhớ tâm trạng mỗi lần đi xếp hàng và không sao quên được những cục gạch mà có lần nào đó mình đã sử dụng). 

                         Giáo sư Nguyễn Huệ Chi :

Bài viết của anh Vương Trí Nhàn sắc sảo quá, nhưng như một số bạn bè trao đổi với nhau, cũng khí cay nghiệt quá”.

Vương Trí Nhàn có cay nghiệt quá không ?

Xin trình ra đây một tư liệu để chúng ta cùng tham chiếu :

“Bỗng nhiên có một nhà làm chính trị, cũng là dân làm văn làm báo của Đảng từ trước cách mạng, nhưng đã mất ngôi, mất quyền, bèn đứng ra tổ chức một tờ báo cho những nghệ sĩ ham chuộng tự do được tự do bày tỏ nỗi niềm.Mình thì nói tự do về nghệ thuật, họ thì nói tự do về chính trị, họ muốn giành quyền, muốn đòi quyền, nhưng tự họ không thể làm được những chuyện đó, thân phận họ tầm thường, tài nghệ thì vớ vẩn, tập hợp thế nào được dư luận và công chúng, nhất là công chúng của chúng ta, mượn cả tiếng kêu thống thiết và cảm động đòi tự do để sáng tạo của chúng ta nữa.Nhà chính trị ấy là ông Nguyễn Hữu Đang, ông đó mới thật là linh hồn, kẻ xúi giục và tổ chức ra mọi sự của cái thời ấy, mưu mô bị vỡ lở, kẻ chủ mưu phải ngồi tù, mấy anh em mình không đi tù nhưng bị treo bút mất mấy chục năm còn đau đớn khổ cực hơn cả đi tù.Mấy ông chính trị thất thế, lắm tham vọng, lắm mưu mô, có đi tù tôi cũng không thương.Đã theo cái nghề ấy phải chịu cái nghiệp ấy, chỉ thương anh em mình lòng trong dạ thẳng, nông nổi thơ ngây, cứ nghĩ bụng dạ họ cũng như mình, nào ngờ họ lại nghĩ ngợi sâu xa đến thế”.

Đấy là tôi trích thư của nhà văn Nguyễn Khải phó tổng thư ký Hội Nhà văn VN viết ngày 01/9/1988 từ TP HCM gửi hội nghị lần thứ 7 BCH Hội.Thư này được bộ phận thường trực Hội chính thức sao gửi đến từng hội viên.Thời gian này đang chuẩn bị tiến tới đại hội lần thứ tư của Hội.Những lời miệt thị tàn nhẫn mà Nguyễn Khải chĩa vào ông Nguyễn Hữu Đang, thoạt tiên khiến tôi ngạc nhiên, nhưng bình tĩnh mà nghĩ mới thấy thực chất là nhằm ông Trần Độ, trưởng Ban Văn hóa Văn Nghệ.Chẳng lẽ , sâu xa trong lòng mình, Nguyễn Khải có thể nhẫn tâm đến thế với Trần Độ, một cán bộ lãnh đạo hiếm hoi mà Nguyễn Khải biết rất rõ là người luôn thật lòng yêu quý kính trọng văn nghệ sĩ và có công lớn qua việc chuẩn bị rất công phu để Bộ chính trị cho ra được nghị quyết 05 về văn hóa văn nghệ làm nức lòng toàn thể anh chị em văn nghệ ? Nguyễn Khải cũng biết rất rõ Trần Độ là người đã khéo léo vận động để tổng thư ký Nguyễn Đình Thi đề xuất đưa Nguyên Ngọc (bí thư Đảng đoàn Hội, bị thất sủng sau vụ đề dẫn) trở lại làm tổng biên tập báo Văn Nghệ, và Nguyên Ngọc đã mau chóng đưa tờ báo tiến lên đứng ở tuyến đầu của cuộc chiến đấu cho đổi mới, đổi mới thật chứ không phải “giả vờ đổi mới”(chữ của Nguyễn Duy trong một bài thơ viết cũng trong thời gian ấy).Không, có lẽ đây chẳng qua là Nguyễn Khải dứt khoát vứt béng cái tôi của mình đi để tỏ rõ với cấp trên rằng trước kia dù mình có trót hăng hái đồng tình với Nguyên Ngọc và Trần Độ nhưng nay thì đã dứt khoát lập trường với hai người ấy.Với sự thính nhạy đặc biệt, Nguyễn Khải đã sớm thấy bên trên Trần Độ có người ngoài miệng hô “cởi trói” nhưng thâm tâm chỉ muốn đối với văn hóa văn nghệ thì mọi sự cứ phải trói chặt lại y như cũ.Và chính tại hội nghị ngày 11/9/1988, Ban chấp hành Hội Nhà văn đã ra nghị quyết giáng cho báo Văn Nghệ một chùy rất nặng, cũng tức là giáng cho Nguyên Ngọc và Trần Độ, dẫn đến việc Nguyên Ngọc, rồi Trần Độ phải rời khỏi chức vụ.(Nguyễn Khải khôn khéo tránh mặt không dự hội nghị, chỉ gửi bức thư mà tôi trích dẫn bên trên, nội dung thật là hiểm, tạo thêm nhân cốt cho quả chùy đang chuẩn bị vung lên).

Tố Hữu, Chế Lan Viên, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải đã ra người thiên cổ.Những gì ngòi bút các ông viết ra – nói như Gorki - rìu cũng không bổ được, còn nguyên đó.Các ông sống thế nào, mọi người dần dần rồi sẽ biết cả, kể cả những gì còn ẩn khuất.Những chữ nghĩa của các ông mà Xuân Sách lẩy thành thơ chân dung, cũng còn nguyên đó.Hậu thế sẽ tiếp tục đọc và suy ngẫm, và chiêm nghiệm.

Nguyễn Khoa Điềm thì hiện đang sống và viết ở Huế, sau khi thôi chức ủy viên Bộ chính trị, trưởng Ban tư tưởng văn hóa trung ương.

Sau cái đận Nguyễn Khoa Điềm nghiền sách của Bùi Ngọc Tấn, dễ đến mấy lần tôi nói với nhà thơ Xuân Sách : “Ông Sách ơi, thế này thì chân dung Nguyễn Khoa Điềm phải có phần 2 chứ ?”.Ông Sách chỉ tủm tỉm cười : “Ờ…Ờ…”. Chờ mãi không thấy ông viết phần 2.

Hóa ra tôi ngu quá.Đọc kỹ lại cái chân dung Nguyễn Khoa Điềm, tôi mới thấy tôi ngu quá.Mà ông Sách thâm thật.

Xin dẫn ra đây cái chân dung ấy:

 

Một mặt đường khát vọng

Cuộc chiến tranh đi qua

Rồi trở lại ngôi nhà

Đốt lên ngọn lửa ấm

Ngủ ngon a cay ơi

Ngủ ngon a cay à

 

 

Và càng thấy ông Sách thâm khi đọc mấy câu nhại của Hà Sĩ Phu :

“Ngủ cho ngoan Mẹ ơi

 Ngủ cho ngoan Mẹ hỡi !”

Ngự trên lưng Mẹ

Con vô Thiên Đường

Mẹ mà thức dậy

Con cho  “lên…Phường !”

....

“Ai mà thức dậy

Vung chày là xong”

 

Ông Sách thâm.Và thơ rất thiêng..Văn chương chữ nghĩa rất thiêng.Cái thiêng bắt nguồn từ một đòi hỏi hết sức nghiệt ngã của cái nghiệp này : lúc nào cũng phải xuất phát từ tấm lòng thành tuyệt đối – một sự “chân thành không biết sợ”  (chữ của Stefan Zweig  nói về Lev Tolstoy).Sống và viết, viết và sống phải trung thực, đơn giản có vậy thôi. “Chảy từ mạch máu ra là máu, từ cái vòi nước ra thì chỉ là nước lã”, tưởng không thể không nhắc lại luôn cả lời ấy của Lỗ Tấn.

Đã có nhiều bài bình luận phân tích về “Thơ chân dung” của Xuân Sách.Nhưng tôi thích nhất mấy lời bình ngắn gọn sau đây của Hà Sĩ Phu :

“Vị nghệ thuật nửa cuộc đời

Nửa đời sau lại vị người ngồi trên”*

Nét này vẽ bác Lan Viên ?

Bác Hữu ?

Bác Cận ?

Hay riêng bác Hoài ?

Chân dung các bác ngời ngời

Chém cha riêng cái nửa đời phía sau

Một đời, hai nửa, vì đâu ?

Nửa say quỷ kế, nửa đau nhân tình.

Quả thật

Thơ thiêng lắm, người ơi

Phản thơ thì phải chết

Chẳng ai giết mình mà mình tự giết

Treo nỗi nhục muôn đời.

 

Đà Lạt 28.06.2008

BMQ

______ 

* Hai câu trong bài thơ của Xuân Sách vẽ chân dung Hoài Thanh

 

 

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=85452

NHÂN BAI CỦA VƯƠNG TRÍ NHÀN
buiminhquoc | 24 Jun, 2008, 11:16 | Chung | (5148 Reads)

Nhân bài viết của nhà phê bình Vương Trí Nhàn về di bút của nhà văn Nguyễn Khải vừa quá cố (“Đi tìm cái tôi đã mất”), nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên trích dịch một đoạn nhật ký của văn hào Pháp Romain Rolland ghi về văn hào Nga Makxim Gorki,  đồng thời đính kèm trong phần phụ lục bài thơ “Bánh vẽ” của nhà thơ Chế Lan Viên cùng bài “Cảm tác …” của tôi.

Xin trình các bạn quan tâm ghé thăm blog này mấy bài của tôi về nhà thơ Chế Lan Viên

 

BÙI MINH QUỐC

 

                   HAI CÂU THƠ CHẾ LAN VIÊN

                   VÀ CHÚT TRẢI NGHIỆM RIÊNG

CỦA TÔI

 

                     Khi ta ở, đất là nơi đất ở

                   Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn

                             (Chế Lan Viên –Ánh sáng và phù sa)

     Hồi còn là sinh viên, tôi mê hai câu thơ này của Chế Lan Viên lắm, lâu lâu lại khẽ ngâm ngợi một mình, rất lấy làm tâm đắc.Chắc ai yêu thơ Chế Lan Viên cũng đều có cùng sự tâm đắc như tôi.Hai câu thơ nói được cái tâm trạng thường có ở con người, ghim vào lòng ta bằng hai biểu cảm tương phản “đất ở và “đất đã hoá tâm hồn”, câu trên dẫn dụ ta bằng một ý hiển nhiên, câu dưới là một sự bùng nổ của cảm xúc và tứ thơ.

          Gần 1200 năm trước, Giả Đảo đời Đường bên Trung Quốc đã có một bài với cảm xúc và cấu tứ na ná thế, ai đọc thơ Đường đều nhớ mãi, rung động mãi:

                   Khách xá Tinh Châu dĩ thập sương

                   Quy tâm nhật dạ ức Hàm Dương

                   Vô đoan cánh độ Tang Càn thuỷ    

                   Khước vọng Tinh Châu thị cố hương

          Tản Đà dịch:

                   Tinh Châu đất khách trải mươi hè

                   Hôm sớm Hàm Dương bụng nhớ quê

                   Qua bến Tang Càn, vô tích nữa

                   Tinh Châu ngoảnh lại đã thành quê

          Già Đảo thời trẻ đã từng đi tu, rồi hoàn tục, đi thi nhiều lần mới đỗ, lúc làm quan thì bị dèm pha, bị biếm đi những chốn xa xôi. Thân phận ông thế thì ông coi những nơi ông ở chỉ như đất khách, là chuyện dĩ nhiên, ấy vậy mà đối với cái đất khách Tinh Châu, khi vừa rời xa, ông liền cảm thấy nó đã thành “cố hương”.Tâm trạng này trong đời sống bình thường ai cũng có đôi lần trải nghiệm,và sau Giả Đảo gần 1200 năm lại được nói hộ một lần nữa qua hai câu thơ Chế Lan Viên.

          Thế rồi, sự tâm đắc buổi đầu của tôi đối với hai câu thơ Chế Lan Viên dần dần không còn nữa, khi đời sống tôi đã khác, tâm trạng tôi đã khác, trải nghiệm của tôi đã khác, ấy là khi tôi vào chiến trường khu 5, chiến trường Quảng Nam, thời chống Mỹ.

          Tại chiến trường, ở bất cứ vùng đất nào, tôi cũng mang tâm trạng “đêm nằm, năm ở”. Mà có khi chả đến một đêm. Chỉ vài giờ, thậm chí vài phút, tấp vào núp một căn hầm nào đó cho qua trận pháo, qua cơn sốt, được một bà mẹ, một cô em nào đó rót cho bát nước, được một bàn tay mẹ, bàn tay em đặt lên vầng trán nóng như lửa với tiếng thở dài đầy lo lắng…Cho nên, không một vùng đất nào khiến tôi cảm thấy chỉ là đất khách,đất ở, mà bất cứ nơi nào tôi đặt chân tới, ngay phút đầu đã cảm thấy “đất hóa tâm hồn”. Bởi bất cứ giờ phút nào, ở bất cứ nơi nào cũng có những con người cưu mang đùm bọc tôi,sẵn sàng đổ máu bảo vệ tôi, và chính tôi bất cứ giờ phút nào cũng có thể thình lình ngã xuống nằm lại đó vĩnh viễn.

          Tự nhiên, hai câu thơ Chế Lan Viên rung lên trong tôi một cảm xúc khác, một tình tự khác,gần như ngược lại, cũng với nhạc điệu ấy :

                    Khi ta ở đâu chỉ là đất ở

                    Máu thiêng rơi đất trĩu nợ tâm hồn.

             Đất Việt của tôi, thời tôi, chứ không phải đất Tàu, thời Giả Đảo.

          Đà Lạt 2.10.2003

(Xin lưu ý : hai câu thơ Chế Lan Viên tôi ghi theo trí nhớ và tin là mình nhớ đúng, nhưng có bạn cung cấp một dị bản “Khi ta ở, đất là nơi ta ở” ( “ta ở “ chứ không phải “đất ở”).Mong bản nào có tập “Ánh sáng và phù sa” hoặc “Tuyển tập thơ Chế Lan Viên” tra cứu giùm.Cám ơn

 

 

CHẾ LAN VIÊN

 

BÁNH VẼ


Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm vui
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc…
Thế thì còn dịp đâu nhai thứ thiệt?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì xảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi
Họ cũng ngồi thôi
Nhai nhồm nhoàm

(“Prométheé 86”, Văn học và Dư luận, 8-1991)


BÙI MINH QUỐC

 

CẢM TÁC TRONG ĐÊM ĐÀ LẠT

NHÂN ĐỌC DI CẢO THƠ “BÁNH VẼ”

CỦA CHẾ LAN VIÊN

 

Mấy thi sĩ thế kỷ này nhồm nhoàm nhai bánh vẽ

Mà thương vay những thế kỷ vắng anh hùng*

Họ thầm biết trên đầu mình có kẻ

Tay vẽ bánh cho người, mồm nhai thứ thiệt ung dung

 

Anh ngồi nhấm lai rai, dẫu biết thừa bánh vẽ

Bởi sợ bị đưa ra khỏi bữa tiệc linh đình

Cái bữa tiệc tù mù mà nức lòng đáo để

Chúc tụng tía lia và ăn uống thật tình

 

Cốt một chỗ ngồi thôi để có ngày được nhai thứ thiệt

Mà kiên trì nhai bánh vẽ rã quai hàm

Thứ thiệt mãi xa vời, chỉ rất gần là cái chết

Cái chết này là chết thật hay oan ?

 

Tôi rùng mình đọc bài thơ “Bánh vẽ”

Mỗi chữ tạc lên cột số dặm đời

Thể phách đã an hòa cùng đất mẹ

Tinh anh còn lạnh buốt suốt thời tôi.

 

Đà Lạt 13.9.1991

 

_________ 

* Chế Lan Viên có câu thơ :

Ôi thương thay những thế kỷ vắng anh hùng

 

 

Tiện thể kể thêm mấy chi tiết liên quan :

Sau khi làm xong bài thơ, người đầu tiên tôi gửi để chia sẻ là nhà thơ Xuân Sách, tác giả câu thơ nổi tiếng mà mọi người trong văn giới đều bảo là vẽ Chế Lan Viên : “Lựa ánh sáng trên đầu mà thay đổi sắc phù sa”.

Trong khổ thơ đầu, câu thứ 3, khi khởi thảo, tôi viết “Họ đâu biết…”

Xuân sách viết thư lại cho tôi, bảo rằng : “Họ biết cả đấy”. Tôi bèn sửa lại : “Họ thầm biết”.

Trong khổ thơ thứ hai, câu thứ 3, : “Cái bữa tiệc tù mù…”, chữ “tù mù” là của Xuân Sách cho, chữ của tôi khi khởi thảo là gì, lâu ngày quá tôi quên rồi.

Xin bạn đọc lưu ý tham khảo thêm bài vừa mới công bố của họa si Trần Duy kể những kỷ niệm của ông với cụ Phan Khôi, trong đó có đoạn ghi lại giai thoại cái tủ lạnh của một nhân vật quan trọng có chứa nhiều lưỡi.Chính Xuân Sách đã kể cho tôi nghe giai thoại này và bảo rằng chủ nhân cái tủ lạnh trong giai thoại ấy là Chế Lan Viên.Xin các nhà sưu tầm giai thoại làng văn khảo chứng giùm điều Xuân Sách nói có đúng không.

Bài thơ “Cảm tác…” trên đây tôi đã gửi nhiều lần cho nhiều báo, nhất là báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn, nhưng chưa báo nào chịu đăng.Hy vọng một ngày không xa nữa, nhờ nỗ lực chiến đấu chung của toàn thể văn giới Việt Nam cho tự do báo chí tự do xuất bản trên đất nước ta, những bài như “Đi tìm cái tôi đã mất” của Nguyễn Khải cùng các bài liên quan của Dương Tường, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Huệ Chi và bài thơ của tôi sẽ được chính thức đăng để đến với các bạn đọc chưa có diều kiện vào mạng internet , và tôi dám chắc rằng khi ấy lượng phát hành các tờ báo có đăng những bài như thế sẽ tăng cao gấp bội.

 

Đà Lạt 20.6.2008

 



Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=76518

KÍNH VIẾNG NHÀ THƠ XUÂN SACH
buiminhquoc | 04 Jun, 2008, 21:03 | Chung | (5028 Reads)

 

CÂU ĐỐI VIẾNG NHÀ THƠ XUÂN SÁCH

 

 

* Vung bút để đời trăm tướng mạo

* Lẩy thơ truyền kiếp một chân dung

 

       BÙI MINH QUỐC kính viếng

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=72265

NHÂN NGÀY 30 THÁNG TƯ 2008
buiminhquoc | 30 Apr, 2008, 22:27 | THƠ | (2250 Reads)

BÙI MINH QUỐC
 

NHỮNG DÒNG GHI TẢN MẠN CHO BÉ LY 

TRONG SỔ TAY NGÀY 6-10-1969
  

Bé Ly con yêu của cha
con ở lại với bà
mẹ cha ra mặt trận
cha đi ngày con chưa đầy sáu tháng
mẹ đi ngày con vừa đầy năm 
Cha mới tính thầm
nay con đã gần ba tuổi
giặc Mỹ dẹp chưa xong
cha chưa thề về con ạ
mẹ thì…
mẹ không bao giờ về nữa
mẹ không bao giờ về nữa 

*

Chắc con đã biết tên nhiều thứ cây thứ hoa
làm bạn với các thứ đồ đạc trong nhà
biết ẵm con mèo biết trêu con chó
biết níu áo theo bà ra phố
biết dạy hát cho cây dừa
cây dừa ở vườn sau cha trồng để nhớ
ngày con chào đời 

*

Thương con vô cùng khi phải xa con
mẹ cha nghĩ mình có lỗi
nếu lúc này chỉ quanh quẩn bên con
khi cả nước non này xốc xới đạn bom.

 
*

Thế là con tôi không bao giờ được biết cái êm ái vô cùng
 của vòng tay ngực mẹ
và có thể cũng không còn được thấy cái trìu mến vô cùng trong ánh nhìn của cha
mà mẹ cha vẫn phải đi xa
để mai sau con biết làm người - một con người tử tế.  

 
*

Thế hệ con rồi sung sướng lắm
chỉ mơ màng đã thấy vui thay
nhưng cũng chẳng mơ mòng đánh đổi
lấy một ngày gian khổ hôm nay 

*

Không thể chỉ gan góc trong phút giây
trong một vài ngày vài tuần hay một vài chiến dịch

*

Chúng ta đi diệt địch
 
cũng đang diệt trăm thứ xấu xa
quanh ta và ngay chính trong ta
mang gánh nặng của nghìn đời nô lệ

*

Nào ai có thể lường
tham vọng cá nhân lại dẫn con người đến những tội ác tột cùng ghê tởm thế
quay mũi dao giết hại người đồng chí từng bao phen vào sinh ra tử với mình
hơn thế nữa, nó tàn hại cả một đảng, cả một nước
và lịch sử, nó cũng ghìm chậm bước…

*

Mỗi ngày qua thêm rạng mặt những anh hùng
Nhưng cũng thêm lúc nhúc bọn đầu hàng phản bội.  

6.10.1969
 
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=64197

CHỒNG CHẤT...
buiminhquoc | 15 Apr, 2008, 09:01 | THƠ | (1585 Reads)
        
BÙI MINH QUỐC


CHỒNG CHẤT…
  

Chồng chất nỗi đời giăng mắc mãi
Tự nhiên mình thế biết làm sao
Mệnh thơ hồn nước hồn đương đại
Động bút là đau lệ muốn trào ! 


Đà Lạt
28.4.2002
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=61014

CHIỀU MƯA THỊT CHÓ
buiminhquoc | 02 Apr, 2008, 15:30 | Chung | (1253 Reads)
 
BÙI MINH QUỐC 

CHIỀU MƯA THỊT CHÓ
  

Rưng rức mưa rây chiều thịt chó
Chén rượu tri âm lạc túy hồn
Nhìn nhau râu tóc ngầu sương gió
Ly choang cười ngạo những khờ khôn. 

Đà Lạt 1999
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=58197

TRƯỚC NHỮNG NƯỜI ĐỌC ẤY
buiminhquoc | 20 Mar, 2008, 10:37 | Chung | (384 Reads)

BÙI MINH QUỐC
 

TRƯỚC NHỮNG NGƯỜI ĐỌC ẤY
 

Trong bao nhiêu gian khổ thời kháng chiến, có một thứ khổ đã dày vò chúng tôi thật gay gắt và dai dẳng : đói.
 

Và cơn sốt theo anh mòn mỏi
Và nỗi khổ mùa mưa, và cái đói
Dày vò anh suốt những năm ròng… 

Năm 1970, trong một bài thơ, tôi đã viết như thế.Đói.Đói cơm, đói sắn, đói muối.
Nhưng còn một cái đói này nữa, ít ai để ý, có thể có người đã quên, và với lớp trẻ hôm nay thì hầu như không hiểu nổi : đói sách.
Vâng, cái sự đói sách cũng hành hạ con người ác liệt chẳng kém gì các nỗi đói khác.Tôi không bao giờ quên những đêm dài, thật là dài, không ngủ được vì đói, nằm queo trên võng, vừa dằn dọc trở mình vừa kể cho nhau nghe về những món ăn bình thường (một đĩa rau muống luộc, một bát canh dưa, một miếng đậu phụ…) nhưng đối với mỗi người chúng tôi hồi ấy đã vùi sâu vào dĩ vãng thăm thẳm.Và chúng tôi kể cho nhau nghe về những cuốn sách hay đã đọc lâu rồi nhưng vẫn muốn cùng nhau gợi lại.Những cuốn sách hiếm hoi bị xén sát mép chữ nằm trong đáy ba lô theo chúng tôi vượt ngàn dặm đèo dốc Trường Sơn vào chiến trường đã chuyền tay nhau đến nát nhừ.Ở một đại đội đặc công thuộc bộ đội địa phương Quảng Ngãi, tôi đã gặp một cuốn “Thép đã tôi thế đấy” chép tay.Cầm bản sách độc đáo ấy trên tay, tôi xúc động lặng người trước một bằng chứng hùng hồn về cái sức mạnh của văn chương đối với đời sống.Tôi nhìn những người lính quanh tôi.Họ đều đã đánh nhiều trận, thế mà mặt anh nào cũng như còn bấm ra sữa, má đầy lông tơ.Từ ghế nhà trường, họ đã bước thẳng ra chiến trường, và tôi có thể quả quyết mà không sợ nhầm rằng có những người trong số họ rời bỏ mái ấm gia đình ra đi chỉ vì sự thôi thúc của một cuốn sách, một bài thơ.Tôi thấm thía hơn bao giờ hết cái lời này của thi sĩ Nga Mai-a-cốp-xki : “Người ta có thể leo qua một câu thơ hay để bước tói một cuộc đời cao đẹp hơn”.
Văn chương nó lạ thế, đôi khi chỉ một câu, một câu thôi, cũng có thể đem lại cho con người những của cải tinh thần vô giá.Cũng trong những năm đói dài ấy, chúng tôi nghiệm ra một điều : khi đói ăn, ta ăn một mẩu sắn, thậm chí một mẩu sắn nướng chưa chín, cũng thấy ngon, nhưng khi đói sách, dù đói đến đâu, cũng không thể bằng lòng với sách dở.Âu đó cũng là một đặc điểm của nhu cầu tinh thần, một đặc điểm khá hiển nhiên, nhưng chỉ đến năm ấy tôi mới thực sự thấm thía.
Trong hành trang của bộ đội, du kích ta hồi đó, nhất là các bạn trẻ, thiếu rất nhiều thứ, nhưng hầu như ít khi thiếu cái vật này : một cuốn sổ tay trong đó có chép những câu thơ, những bài thơ hay, hoặc những danh ngôn.Chẳng hạn chính mắt tôi đã được đọc trong sổ tay của nhiều anh bộ đội mấy câu thơ tuyên ngôn rất quen thuộc này của Pê-tô-phi, người thi sĩ – chiến sĩ lớn của nhân dân Hung-ga-ri, qua bản dịch của nhà thơ Xuân Diệu : 

Tự do và ái tình
Vì các ngươi ta sống
Vì tình yêu lồng lộng
Tôi xin hiến đời tôi
Vì tự do muôn đời
Tôi hy sinh tình ái. 

Pê-tô-phi đã ngã xuống giữa trận tiền khi mới 26 tuổi trong cuộc chiến đấu chống bọn vua quan chuyên chế bạo tàn, người thi sĩ trẻ tài năng và khí phách ấy đã sống và chết đẹp đúng như lời thơ tuyên ngôn.
Bạn có thể hình dung chúng tôi vui sướng đến thế nào, khi một hôm vào mùa hè năm 1971 được thông báo của cấp trên bảo cử người đi nhận sách ở đường dây 559 ( hồi ấy thường gọi đường dây xã hội chủ nghĩa ).Đã hàng mấy năm cơ quan Văn Nghệ Giải Phóng trung Trung Bộ ( Khu 5 ) chúng tôi không có sách đọc, thỉnh thoảng lại bị mừng hụt : vừa được tin có sách thì lại được tin chuyến xe chở sách bị trúng bom dọc đường từ miền Bắc vào.Nhưng lần này thì khá chắc chắn, sách đã vào tới trạm cuối đường dây xã hội chủ nghĩa, tiếp giáp với đường dây giải phóng.Lúc nảy cơ quan rất vắng, một số đi công tác đồng bằng, một số thì đau ốm, chỉ còn tôi tương đối khỏe.Tôi được phân công đi nhận sách.Với ít lon gạo và túm muối trong lưng, tôi hăm hở ra đi.Một tuần sau tới nơi.Quả nhiên chúng tôi nhận được một thùng sách.Tôi để nguyên cả thùng, choàng chiếc quai gùi vào theo cách của các chiến sĩ gùi mà cõng trên lưng trở về.Trên đường về, tôi cố dốc sức đi thật nhanh để mỗi ngày có thể dừng nghỉ hơi sớm, tranh thủ lấy sách đọc ít trang trước khi trời tối, vì không thể nào “nhịn” lâu hơn được.Đi được một ngày, mới phát hiện thấy có hai cậu lính trẻ  cứ bám theo mình lẵng nhẵng tìm cách bắt chuyện làm quen, xoắn xít giúp căng lều, kiếm củi, kiếm rau, nhóm bếp khi dừng nghỉ.Thì ra họ đã đánh hơi biết cái thùng tôi cõng trên lưng chứa đựng thứ gì.Cuối cùng họ thuyết phục tôi cắm lều nghỉ lại vài ngày giữa đường cho họ mượn sách đọc.Tôi phân vân : lương thực trạm phát cho chỉ đủ ăn bảy ngày, nếu dừng lại kéo dài thời gian trên đường làm sao đủ ăn về tới nhà ?-Khỏi lo, ông anh – một cậu nói ngay, và lập tức móc gùi lấy ra một chiếc quần đùi còn khá mới – em còn cái này đây, đem vào nóc ( làng đồng bào dân tộc thiểu số ) đổi gạo đổi sắn cho anh ăn.Em đi chiến trường năm năm rồi, năm năm không được ngó tới trang sách nào anh ơi !...Lời nói sau cùng với cái giọng tha thiết khổ sở quá khiến tôi cầm lòng chẳng đậu.Thế đấy, bên một con suối, giữa cánh rừng trụi trơ vì chất độc hóa học, chúng tôi lập một “câu lạc bộ” sách.Suốt đời tôi sẽ không quên được cặp mắt của người lính trẻ lúc ấy, trên gương mặt gầy guộc và xanh tái, chợt bừng lên một làn ánh sáng kỳ lạ khi tôi mở cái thùng sách.Không kìm được, cậu bật reo như trẻ nhỏ, thọc tay vào trong thùng, những ngón tay run rẩy.
Về sau, mỗi khi ngồi vào bàn viết, trước trang giấy trắng, tôi lại thấy hiện lên ánh mắt ấy.Và nghe thầm thì những lời này của đại văn hào Lỗ Tấn :
“Nhiều bạn đọc nói rằng văn tôi là thành thật.Thật ra như thế là quá khen.Tất nhiên tôi không định bụng lừa dối ai cả, nhưng cũng chưa hẳn đã đem những điều trong bụng nói ra hết, đại khái nếu xem viết như thế có thể nộp bài được là cho xong.Thường thường tôi đem người khác ra mổ xẻ không nể nang, rồi nói ra một ít.Như thế mà những người thích ấm cúng đã thấy lạnh lẽo rồi…Lại còn có duyên cớ nho nhỏ nữa là cứ muốn làm cho phường gọi là “chính nhân quân tử” bực bội mấy ngày, cho nên tôi đặc biệt để lại trên người một ít mảng áo giáp…Còn có người cho rằng tôi cứ cầm bút là viết, nói thành thật nỗi lòng của tôi ra.Kỳ thực không đúng hẳn như thế..Những điều tôi đắn đo kiêng kị không phải là ít…Còn nhớ một anh học sinh đến mua sách của tôi.Anh ta lấy tiền trong túi ra đặt vào tay tôi, tiền còn mang theo hơi nóng trong người anh ta.Hơi nóng đó in dấu mãi trong lòng tôi, đến nay lúc tôi muốn viết cái gì vẫn thường làm cho tôi lo sợ đầu độc phải những thanh niên như thế, cứ trù trừ không dám đặt bút xuống viết.Có lẽ vị tất đã có ngày tôi nói không cần phải đắn đo kiêng kị gì hết, nhưng đôi lúc tôi cũng nghĩ kỳ thực nói không kiêng kị gì hết thì mới không phụ lòng những thanh niên như thế”.
Vâng, nói không kiêng kị gì hết thì mới không phụ lòng những thanh niên như thế, ở Trung Quốc của Lỗ Tấn là thế, ở Việt Nam của tôi cũng thế, ở đâu cũng thế, trước kia là thế, ngày nay và mãi mãi sau này cũng thế, dứt khoát thế. 

BMQ
 
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=55925

DẦN TRẦN
buiminhquoc | 10 Mar, 2008, 15:33 | Chung | (427 Reads)
 
BÙI MINH QUỐC 

DẦN TRẦN
 

Tặng nhà văn Nam Dao, tác giả cặp chữ
“Cọp ngày”
 để gọi yêu thi sĩ tuổi dần Trần Dần.   

Nghìn năm bất phục
Thu thế ngồi
Một trời
Một bóng
DẦN 

Nghìn năm thét gầm
Quánh lại như câm
Một dòng
Một chữ
TRẦN 

Những con chữ mãnh hổ
Dựng chồm
Tá hỏa tớ thầy bầy bóp cổ văn chương. 

Đà Lạt 8.3.2008
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=54271

THƠ KÍNH HIỀN
buiminhquoc | 08 Mar, 2008, 09:18 | Chung | (1629 Reads)
  
BÙI MINH QUỐC  

EM TRỞ DẬY…
 

Kính Hiền ngày 8.3
 

Em trở dậy cùng tiếng chuông chùa sớm
Khẽ khàng
Dón dén
Cho anh vài phút biếng lười
Nằm nghe nhạc bếp 

Rồi một ngày lại tiếp
Ta chường mặt bụi đời. 

Đà Lạt 8.3.2008
 
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=53978

VỀ VỤ TẬP SÁCH "TRẦN DẦN - THƠ"
buiminhquoc | 04 Mar, 2008, 05:17 | Chung | (778 Reads)
  
Hà Nội, ngày 2 tháng 3 năm 2008

THƯ NGỎ

Kính gửi
      
Ông Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóaKhoa họcGiáo dục, Quốc hội CHXHCN Việt Nam
      
Ông Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật, Quốc hội CHXHCN Việt Nam
      
Ông Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông CHXHCN Việt Nam
      
Ông Tổng Thanh tra Chính phủ CHXHCN Việt Nam
Đồng kính gửi Ban Tuyên giáo trung ương và Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cùng toàn thể các đồng nghiệp trong Hội
(Kính nhờ báo Văn Nghệ, báo Nhân dân cùng các báo đài trong ngoài nước và mạng internet công bố giùm)      

Tôi là Bùi Minh Quốc, một người làm thơ, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, ký tên dưới đây, xin trân trọng gửi các vị thư ngỏ này nhân vụ việc liên quan đến tập sách Trần Dần – Thơ (Công ty văn hóa truyền thông Nhã Nam và Nhà xuất bản Đà Nẵng xuất bản, 2008) vừa bị ngưng phát hành.
Thưa các vị,         
Toàn bộ thông tin về vụ tập sách Trần Dần  - Thơ tôi nhận được là từ lời tổng biên tập nhà xuất bản Đà Nẵng trả lời phỏng vấn của đài BBC và từ bức THƯ NGỎ viết ngày 01.03.2008 của  các đồng nghiệp
Nguyễn Huệ Chi Giáo sư, nguyên Chủ tịch Hội đồng khoa học, Viện Văn học Việt Nam
Dương Tường Nhà thơ, dịch giả
Phạm Xuân Nguyên Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội
Hoàng Hưng Nhà thơ, dịch giả
Giáng Vân Nhà thơ, nhà báo
Phạm Toàn (Châu Diên) Nhà văn, dịch giả
Cao Việt Dũng Dịch giả và nhà nghiên cứu văn học
Tôi tin rằng những thông tin ấy là chính xác.
Tôi đề nghị các đồng nghiệp tác giả bức thư ngỏ nói trên cho tôi được cùng ký tên vào đó.Ngoài ra, xin được phát biểu thêm (và nhắc lại) một số ý kiến như sau :
1-Việc bắt phải ngừng phát hành tập sách Trần Dần  – Thơ  với lý do “vi phạm  qui trình xuất bản cần phải được công bố công khai trên các báo đài trong nước để “dân biết, dân bàn”.
2-Theo nhận xét của riêng tôi, việc bắt phải ngừng phát hành tập sách Trần Dần  – Thơ  với lý do “vi phạm qui trình xuất bản” thực chất chỉ là hành vi tiếp tục vùi dập một công trình văn hóa bị buộc phải cất kỹ trong ngăn kéo đằng đẵng bao năm qua trong khi đáng ra công trình ấy cần được đưa tới bạn đọc càng sớm càng tốt.
3-Nhà thơ Trần Dần đã được tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật (cùng với các bạn ông trong nhóm Nhân văn-Giai phẩm là Phùng Quán, Hoàng Cầm, Lê Đạt), đấy là biểu hiện một bước nhích tới rất đáng khích lệ của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới.Hành vi của một số người chủ chốt trong đoàn thanh tra liên ngành do bộ Thông tin – Truyền thông cầm đầu thực chất là hành vi chống đổi mới, làm tổn thương danh dự của Đảng và Nhà nước ta trước giới trí thức văn nghệ sĩ cả nước và toàn thế giới.
4-Hành vi nêu trên thực chất là nối tiếp một cách khác nhiều hành vi tương tự trước đây, mà điển hình là vụ đưa vào máy nghiền một tác phẩm rất giá trị và không hề vi phạm pháp luật là cuốn tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000” của nhà văn Bùi Ngọc Tấn.Điều đó chứng tỏ có một thế lực chống đổi mới trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ đang lộng hành hoạt động phá hoại dai dẳng và có hệ thống; thế lực này tiếp tục vùi dập các tác phẩm giá trị và các tác giả tài năng đồng thời mở lối rất dễ dãi cho xuất hiện tràn lan những sản phẩm tầm thường.Tôi xin nhắc lại, tai họa lớn, bao trùm, (và dai dẳng) đối với nền văn hóa Việt Nam hiện nay chính là sự lấn át tràn lan của cái tầm thường.
5-Vì vậy, tôi khẩn thiết yêu cầu Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt nam cần có thái độ về vụ việc này đồng thời tổ chức ngay một hội thảo chuyên đề về hai tác phẩm bị cấm, bị nghiền là “Trần Dần – Thơ” và tiểu thuyết “Chuyện kể năm 2000”.
6-Tôi hy vọng tất cả các đồng nghiệp trong và ngoài Hội Nhà văn Việt Nam có tiếng nói kịp thời của mình.Tôi đặc biệt chờ đợi ý kiến của các nhà văn Vũ Tú Nam, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, nguyên tổng thư ký, Nguyên Ngọc, Nguyễn Quang Sáng, nguyên phó tổng thư ký, Xuân Cang, nguyên trưởng ban kiểm tra Hội Nhà văn Việt Nam.
7-Quyền tự do sáng tác phải gắn liền với quyền tự do báo chí và tự do xuất bản chứ không thể là tự do sáng tác để cất vào ngăn kéo.Luật báo chí và luật xuất bản hiện hành là vi phạm hiến pháp vì không đảm bảo quyền tự do báo chí và tự do xuất bản của công dân.Đây là trở lực lớn nhất cần phải sớm tháo gỡ để mở đường cho sự  nghiệp phát triển văn hóa Việt nói riêng và sự nghiệp dân chủ hóa đất nước Việt Nam nói chung.Vụ việc đối với tập sách “Trần Dần – Thơ” càng thôi thúc các nhà văn Việt Nam phải kiên quyết hơn nữa trong cuộc chiến đấu (ôn hòa và hợp pháp) để giành lại quyền tự do cơ bản ấy mà chúng ta đã từng có (một thời gian ngắn) sau cách mạng tháng 8.1945 và sau tháng 10 năm 1954 (trên miền Bắc).  

BÙI MINH QUỐC

03 Nguyễn Thượng Hiền-Đà Lạt
ĐT : 063-815459 * 0918007842    


Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=53298

LẬT CHỒNG BẢN THẢO CŨ
buiminhquoc | 23 Feb, 2008, 08:32 | Chung | (381 Reads)
Hôm nay Đà Lạt mưa buồn
mình buồn buồn lật lại chồng bản thảo cũ thấy bài thơ này, đem ra tự  nhâm nhi,
và bạn nào thích cùng nhâm nhi thì xin mời.

BÙI MINH QUỐC  

NÚI
 

Núi núi dâng dâng niềm vạn kỷ
Muôn đỉnh như muôn vọng hải đài
Muôn chiều sương khói muôn chiều lệ
Núi hiểu lòng ta mong ngóng ai. 

Đà Lạt cuối 2003
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=51992

NÉN TÂM HƯƠNG TỪ ĐÀ LẠT
buiminhquoc | 14 Feb, 2008, 09:07 | Chung | (876 Reads)
  
Năm 2003, tôi đang bị giặc nội xâm quản chế lần thứ 2 tại Đà Lạt, nhân ngày kỷ niệm khởi nghĩa cách mạng tháng 8, nghĩ đến tấm gương khí phách chiến đấu vì lẽ phải và công lý của bậc đàn anh Hoàng Minh Chính đã kiên định nêu cao suốt từ đầu những năm 40 thế kỷ 20 sang thế kỷ 21, tôi viết bài thơ chúc thọ ông anh ngoài Hà Nội.
Nghe tin anh vừa từ trần, xin gửi bài thơ này thay nén tâm hương từ Đà Lạt vọng
bái anh.
Đà Lạt 8.2.2008
 
 

BÙI MINH QUỐC
 

 HOÀNG MINH CHÍNH THƯỢNG THỌ            

Minh Chính trần
đời chọi bất minh
Trần đời lao lý vẫn xem khinh
Suy đi xét lại tìm chân lý
Lao lý vì dân gắng hết mình
 

Người ta thọ tí lại thêm còng
Bác lên thượng thọ bước thong dong
Dẹp phường giả đức giả nhân nghĩa
Minh tâm chính đạo thảnh thơi lòng. 

Đà Lạt,19.8.2003 

(
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=50938

GIẤC XUÂN
buiminhquoc | 25 Jan, 2008, 09:45 | Chung | (421 Reads)
 
Một mùa xuân nữa lại đang đến, nhưng với tôi thì… 

GIẤC XUÂN      
Tặng các bạn cùng thế hệ của tôi
 

Anh ru em và em ru con
Vườn khuya lộp bộp tiếng sương buồn
Anh ru xua bớt buồn đêm thẳm
Hai mẹ con dần êm giấc ngon 

Lặng ngắm thiên thần êm giấc ngon
Đang bay vào mộng tắm hương nguồn
Anh xin riêng thức che ngày cũ
Vẫn ám vọng hoài những đợt bom. 

Đà lạt chớm đông 2002 

BÙI MINH QUỐC
  
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=48540

THƠ DÂNG
buiminhquoc | 18 Jan, 2008, 11:55 | Chung | (888 Reads)
NHỚ NGÀY 19.01.1974, QUẦN ĐẢO HOÀNG SA BỊ MẤT VÀO TAY TRUNG QUỐC 

BÙI MINH QUỐC
 

THƠ DÂNG 
 

Kính dâng anh linh các liệt sĩ
vì Tổ Quốc đã bỏ mình trong lòng đất lòng biển
Hoàng Sa Trường Sa  
                                                                                           
 Tôi ngước mắt vọng trời
Trời rựng máu                                                                                             
Hoàng Sa
Trường Sa 

Tôi cúi đầu tìm đất
Đất ứa lệ
Hoàng Sa
Trường Sa 

Tôi vây giữa ngàn thông ngàn hoa
Gốc thông nào cũng khắc
Hoàng Sa
Trường Sa
Cánh hoa nào cũng nhắc
Hoàng Sa
Trường Sa 

Kìa vụt hiện ngọc ngà
Người mẫu
Em lớn từ lệ máu
Hoàng Sa
Trường Sa 

Ê a bên thềm miệng sữa ê a
Vỗ lòng tôi tựa sóng
Hoàng Sa
Trường Sa 

Sực nghe xuân gõ cửa mọi nhà 
Âm âm
rền
Hoàng Sa
Trường Sa.
Đà Lạt 24g30 17..01.2008 
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=47580

MUỐI
buiminhquoc | 12 Jan, 2008, 09:20 | Chung | (1555 Reads)

 BÙI MINH QUỐC 

MUỐI 

Ngày Tết, ngồi trước mâm cỗ ê hề đủ món, chợt có lúc lòng tôi chùng xuống nhớ về muối.Lẩn thẩn chăng ? Không.Tôi nhớ về những hạt muối kết tinh với máu, thấm vào máu tôi suốt bao năm.         
Hồi ấy cũng sắp tới một cái Tết, của năm Canh Tuất (1970), tôi nhớ rõ lắm, thời kỳ vô cùng khốn đốn ở chiến trường Khu 5.Các cơ quan Khu trên núi hầu như chẳng biết lấy gì để ăn tết ngoài mấy rẫy sắn ngấm nặng chất độc hoá học Mỹ.Ngay cả muối cũng thiếu. Địch càn quét khắp nơi.Vùng giáp ranh giữa núi và đồng bằng bị chúng đổ quân ràng chặt.
         
Trên dường đi nhà in về, tôi ghé thăm C14 đóng trong rừng nứa, gần con suối Đăk Nghêu.Lạ thật, không khí ở đây có vẻ rộn rịp, chứ không buồn hiu như ở các đơn vị khác.C trưởng nắm tay tôi rất chặt :
  
       
-Tụi em tổ chức ăn tết trước để ngày mai đi làm nhiệm vụ.Mời nhà báo cùng dự.
         
-Chắc đi ra đường dây xã hội chủ nghĩa ?
         

 Đường dây xã hội chủ nghĩa là tên chúng tôi thường dùng để gọi đường dây 559 – hành lang vận chuyển chiến lược từ miền Bắc vào - nằm tít tận trên đất Lào, từ vùng căn cứ Khu 5 tới đó phải mất ngót nửa tháng leo núi.  
        
-Không, tụi em đi hướng khác.
         
-Hướng khác thì chỉ có đồng bằng thôi.Mà từ mấy tuần nay, các mũi quân tìm cách thọc xuống đồng bằng kiếm lương thực thực phẩm đều phải quay về hết.Thế mà…?
         
-Tụi em thì nhất định không quay về.
         
C14 là một đại đội toàn nữ, chuyên làm nhiệm vụ vận chuyển lương thực thực phẩm cung cấp cho các cơ quan Khu.Mọi người ở căn cứ kháng chiến Khu 5 không mấy ai không biết C14.Trên các nẻo đường mòn trong rừng, người ta thường gặp những cô gái nước da vàng bủng vì sốt rét, cõng trên lưng khi thì gùi gạo, gùi muối, khi thì thùng mắm…,lặng lẽ như là không biết nói, lầm lũi trèo đèo, lội suối, vượt dốc.Các cô đi từng tốp năm ba người, có khi chỉ đi một mình, tối đến dừng lại một mình chăng lều, một mình gầy bếp nấu ăn, sáng ra lại lẳng lặng một mình tiếp tục lần bước trên con đường rừng với gùi hàng nặng quá sức, tưởng chừng không thể nào cõng nổi. Đấy chính là các cô gái C14.Mùa mưa lũ ở rừng núi miền Trung cực kỳ nguy hiểm.Chết vì bom, vì pháo, vì đụng biệt kích thì đã đành, nhưng mỗi mùa mưa lũ hàng năm, các cơ quan Khu thế nào cũng phải “cúng” cho Hà Bá khoảng một đại đội, trong đó thường không thể thiếu người của C14, vì C14 là đội quân vận chuyển cơ động, lúc thì phóng xuống đồng bằng móc gạo móc muối lên, lúc thì lặn lội tới tận đường dây xã hội chủ nghĩa đón hàng miền Bắc vào.
         
C trưởng ghé tai tôi thì thầm :
         
-Đơn vị em bị đến hơn chục đứa cả năm nay chẳng có kinh nguyệt chi hết.
         
Tôi biết đó là do lao lực quá.Thường xuyên cõng trên lưng ba bốn chục ký hàng, nắng mưa bất kể, ăn uống thì chủ yếu là sắn với rau tàu bay, rau môn thục, lại sốt rét hành hạ triền miên, cứ thế ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, các cô chẳng có gì ngoài sức trẻ và lòng nhiệt thành bền bỉ của các nữ thánh.
         
Bữa liên hoan “ ăn tết trước” chiều hôm đó có thịt lợn, nhờ sự tháo vát của bộ phận hậu cần đã đem quần áo lên các nóc đồng bào dân tộc thiểu số tận Kontum đổi về.Các cô kiếm được ít hoa chuối rừng xắt mỏng ăn ghém, gợi nhớ một bữa ăn thuở thanh bình ở quê nhà.
Các cô ăn uống nói cười ríu rít, không khí giống như trong một gia đình đông con.Cô nào cũng trẻ quãng mười tám đôi mươi cả, nhiều cô khá xinh, niềm vui chốc lát khiến gương mặt ửng hồng lên át đi nước da sốt rét thường ngày.Có cô nào đó chợt bảo các bạn : “Ăn đi tụi bay, chuyến này chắc phải vài ba đứa ra đi không về”.Một câu nói đùa, hoặc chỉ là cái giọng đùa đùa, tưng tửng, mà thật, vì đó là sự thật : năm nào đơn vị cũng có người hy sinh.         
Nửa tháng sau, vào áp tết, tôi được cơ quan phân công đi lĩnh muối về ăn tết.Lĩnh muối xong, mới nghe chị thủ kho cho biết : muối này do C14 vừa móc về.Một kho muối bí mật của ta nằm trong vòng địch càn, nhưng chúng chưa phát hiện ra.C14 được lệnh luồn qua khe hở giữa đội hình 2 đơn vị địch, bí mật vào kho và chuyển ra được hết.Tốp ra sau cùng đụng phải ổ phục kích, trúng mìn hy sinh tại chỗ hai người, một người bị địch bắt đưa lên máy bay trực thăng chở đi nhưng từ trên máy bay đã nhảy xuống và cũng hy sinh luôn.
         
Tôi cõng muối trở về, nước muối mặn thấm đẫm lưng áo xát vào da thịt, cứ đến chỗ nào có suối lại phải tháo gùi nhảy xuống nhúng người.Tới tận bây giờ, sau bao nhiêu năm vẫn còn như cảm thấy bỏng rát khắp da thịt, bỏng rát trong từng mạch máu.Thỉnh thoảng cũng có gặp lại các cô gái C14.Một số cô đã có chồng, có con, có cháu.Nhưng một số cô vẫn độc thân, vì bệnh tật triền miên, và nhất là vì tuổi xuân đã hiến trọn cho những hạt gạo hạt muối những năm tháng ấy./.
           

                                                        


Ảnh :Tác giả Bùi Minh Quốc trên đường cõng gạo trong rừng căn cứ Trà My (tây Quảng Nam) thời chiến tranh.
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=46790

1 2 3  Sau»